Án treo đối với tội trộm cắp tài sản

Anh tôi hiện nay 41 tuổi đang làm cho 1 công ty sản xuất hạt điều xuất khẩu. Làm việc được hơn 10 năm, do hoàn cảnh gia đình khó khăn a trộm 1 bao hạt điều trị giá 7-8 triệu và bị bắt quả tang. Tôi xin hỏi luật sư về tội trạng mà a tôi có thể lãnh(điều 138 bộ luật hình sự) và có thể được giảm nhẹ án và hưởng án treo ko? Vì a tôi là trụ cột chính trong gia đình phải nuôi 2 con học ĐH, hoàn cảnh khó khăn và cũng đã trả lại số tài sản trộm cắp, thành khẩn khai báo trước cơ quan điều tra
Mong sớm nhận được trả lời của quý luật sư.
Chân thành cảm ơn

Trả lời:

Theo quy định tại điều 138 Bộ luật hình sự quy định về tội trộm cắp tài sản:

Điều 138.  Tội trộm cắp tài sản 

1.      Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 60.  Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

Như vậy nếu anh của bạn bị phạt án tù không quá 3 năm và tòa án xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì anh của bạn được hưởng án treo.

Bạn tham khảo them tại điều quy định về tình tiết giảm nhẹ

Điều 46.  Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;  

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái  pháp luật của người bị hại hoặc  người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h)  Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc  công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ  trong bản án.

Điều 47.  Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

 Nếu cần thêm thông tin vui lòng gọi số 19006665 hoặc 0873050996 gặp tư vấn viên Kim Nga để được hỗ trợ.

 

Cần tìm hiểu thêm gọi ngay 1900 6665 để được hỗ trợ!

Hoặc gửi câu hỏi trực tuyến tại đây

ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN
  1. Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!