Phân chia tài sản khi ly hôn
Kính chào Luật sư!
Lúc lấy vợ, tôi đã có nhà riêng. Sau đó, để tiện cho việc kinh doanh, tôi đã đổi nhà cũ lấy đất mảnh đất khác, rồi xây nhà trên diện tích đất này. Nhờ việc kinh doanh có hiệu quả, tôi tiếp tục mua 1 mảnh đất khác (hiện nay đang tiến hành xây nhà trên đó). Trong quá trình chung sống, tài sản chủ yếu là do tôi làm ra, vợ tôi làm công chức nhà nước nhưng chưa khi nào đưa tiền cho tôi, trong khi mọi việc chi tiêu trong gia đình (kể cả ăn uống) toàn bộ tôi phải bỏ ra. Hiện nay, tình cảm của vợ chồng tôi đã rạn nứt, chúng tôi quyết định ly dị. Vậy tài sản được phân chia như thế nào?
Trong việc kinh doanh và đang xây ngôi nhà mới, tôi có mượn tiền của mẹ tôi và anh em tôi nhưng không bàn bạc với vợ tôi vì đang giận nhau. Vậy khi ly dị có tính là nợ chung không?
Lúc trước, cha vợ tôi có cho mượn 100 triệu, sau đó quy đổi thành vàng, thời điểm này, ông đòi, tôi phải đi mượn để trả cho ông (vợ tôi không đóng góp), vậy số nợ này, vợ tôi có trách nhiệm trả nợ cùng tôi không?
Hiện nay, tôi có 2 đứa con trai, 1 đứa 8 tuổi và 1 đứa 2 tuổi? Khi ly dị, tôi muốn nuôi 1 đứa vậy tôi phải làm thủ tục gì trong khi vợ tôi đòi nuôi 2 đứa và nói sẽ không bao giờ cho tôi được gặp 2 đứa?
Rất mong sự tư vấn của luật sư. Tôi chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Chào bạn! theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Điều 95. Nguyên tắc Chia tài sản khi ly hôn
1. Việc Chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Như vậy, nếu tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp có thỏa thuận tài sản riêng), vì vậy khi chia tài sản, phần tài sản này sẽ được chia đồi nhưng có tính đến công sức đóng góp của các bên.
Đối với số nợ trên, Căn cứ vào điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”. Giao dịch hợp pháp ở đây được hiểu là hợp đồng vay tài sản (tiền, vàng, ngoại tệ...) hoặc giấy vay tiền, không phân biệt viết tay hay đánh máy do người có đủ năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện. Nhu cầu thiết yếu của gia đình như: ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, việc học hành của con trẻ...như vậy số tiền nợ trên có thể được xem là nợ chung của vợ chồng.
Đối với vấn đề nuôi con, Luật quy định: “ Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác”
Nếu cần trao đổi thêm thông tin vui lòng gọi số 19006665 gặp tư vấn viên Kim Nga để được hỗ trợ
- Phụ nữ có được ưu tiên nuôi con khi ly hôn
- Nộp đơn ly hôn ở đâu
- Quyền nuôi con khi ly hôn
- Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con ngoài giá thú
- Phát mãi tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
- Thay đổi quyền nuôi con
- Ly hôn nhưng không biết vợ ở đâu
- Chia tài sản chung khi ly hôn
- Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Có được mang thai hộ
- Thủ tục đơn phương ly hôn
- Lừa đảo thông qua kết hôn?
- Nghĩa vụ cấp dưỡng khi ly hôn
- Tranh chấp tàn sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Chia tài sản khi ly hôn
Cần tìm hiểu thêm gọi ngay 1900 6665 để được hỗ trợ!
Hoặc gửi câu hỏi trực tuyến tại đây



